top of page

Lưu Công Nhân oanh liệt

  • Jul 17
  • 6 min read

(Bài viết năm 2018)

Chú Lưu Công Nhân nay vẫn còn rất rõ trong tâm trí tôi, cho dù đã 10 năm trôi qua. Lưu Công Nhân mất vào mùa hè 2007, tháng 7.

Một người con của đất Phú Thọ sao lại nằm xuống trên cao nguyên Lâm Đồng?! Rất nhiều người bạn Hà Nội của Lưu Công Nhân đã không "gặp lại” được Lưu Công Nhân lần cuối…

1991-1992, trong cuốn vựng tập đầu tiên (in nhân dịp triển lãm tranh Lưu Công Nhân cùng năm tại Hà Nội), nhỏ chỉ bằng bàn tay, bìa mềm, khổ ngang, chú Lưu Công Nhân có viết cho bố tôi, không phải ở trang đầu mà ở trang cuối, rằng: "Sắp hết đời rồi ông ơi!”

Vậy là chú đã sống và vẽ được thêm chừng 15-16 năm nữa, trong đó có đến 12 năm chú phải chống chọi với căn bệnh Parkinson.


Lưu Công Nhân (1931-2007) - Chân dung tự họa. 1970. Sơn dầu.
Lưu Công Nhân (1931-2007) - Chân dung tự họa. 1970. Sơn dầu.

Nhiều người bảo Lưu Công Nhân sinh năm 1930, tuổi Canh Ngọ. Nhưng tuổi đúng của chú phải là Tân Mùi, 1931. Lưu Công Nhân tuổi Mùi!!!

Cũng có người thắc mắc về cái tên “Công Nhân” hơi là lạ của chú. Kể cũng có lý. Thực ra, tên “nôm” của chú Lưu Công Nhân là “Nhẫn”. Không biết chú đã bỏ dấu ngã từ khi nào. Tôi biết chính xác điều này, đã rất lâu rồi, trong một buổi trưa trò chuyện với họa sĩ Hoàng Công Luận và đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, hai người bạn từ thuở thiếu thời của chú Lưu Công Nhân.

Người ta cũng hay viết Lưu Công Nhân là “học trò yêu” của Tô Ngọc Vân. Riêng Lưu Công Nhân thì tự viết là “học trò trực tiếp”.

Tô Ngọc Vân vốn là người “lăng-xê” giỏi. Và không chỉ Lưu Công Nhân, mà ngay cả Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên quả thực đều ít nhiều được hưởng từ cái tài “lăng-xê” ấy của ông Vân.

***

Về Lưu Công Nhân có một câu chuyện đáng ghi. Tại một lớp học “chỉnh huấn” trong kháng chiến chống Pháp (quãng 1952-1953), Lưu Công Nhân có “tuyên bố”: Bao giờ Lưu Công Nhân có đủ trình độ tranh luận, Lưu Công Nhân sẽ tranh luận với Tô Ngọc Vân, vân vân.

Không ngờ, trên đường từ lớp học trở về, Tô Ngọc Vân đã vừa rơi nước mắt vừa nói với Nguyễn Tư Nghiêm: Cái thằng Nhân gớm thật!

Nguyễn Tư Nghiêm nghe vậy thì trách Tô Ngọc Vân: Tại thầy cứ khen nó cho lắm vào.

... Sau cùng Tô Ngọc Vân chốt lại: Thôi. Không sao cả. Lưu Công Nhân sẽ là người đi đến tận cùng con đường của hội họa.

Ngày Lưu Công Nhân biết câu chuyện ấy, câu chuyện đã cũ đến 40 năm, Lưu Công Nhân cũng khóc lặng đi. Chú khóc, có lẽ, không phải vì ân hận hay hối tiếc (bởi cũng chẳng có gì tới mức phải ân hận hay hối tiếc), mà chú khóc vì được biết quá muộn một câu chuyện quá cảm động về người thầy của mình, khóc vì một lời tiên tri cao thượng đã dành cho mình, và khóc cho cái tuổi trẻ đầy hoài bão của chính mình nay đã lùi xa không lấy lại được.

* * *

Lưu Công Nhân là một người suốt đời đi săn tìm những tình huống hài hòa của thiên nhiên, cuộc sống và con người. Chú rất hay đặt ra chữ “giá mà” để “additus” (bổ sung) cái gì đó cho các tình huống mà chú cho rằng có khả năng trở nên hài hòa…

Ngược lại, trước bất kỳ cái gì chú không thích, không ưa, không hào hứng thì chú quay đi, và vừa quay đi vừa nói hàng tràng: “không, không, không”, chỉ nghe đã thấy chán.

Lưu Công Nhân, như chính Lưu Công Nhân nói: “Có thói hư thích tranh của người khác”. Xem tranh của người khác, bất kể của ai, chú rất vô tư, thấy tranh của ai đẹp chú xuýt xoa không tiếc lời. Ngay từ trong kháng chiến, người nào vẽ được tranh đẹp mà Lưu Công Nhân đã thích rồi - thì phải cẩn thận, bởi không chừng Lưu Công Nhân “nhót” mất, chỉ để chơi thôi. Ồ! Một con người yêu cái đẹp tới mức kỳ lạ.

Trong nghệ thuật, Lưu Công Nhân rất dân chủ. Vẽ được gì, viết được gì chú cũng muốn công khai luôn, và luôn luôn muốn xin ý kiến. Ngày chú ra cuốn sách đầu tiên (1995), chú viết thư bảo tôi: “Hay hay dở, đẹp hay xấu, phải nói thật cho chú biết nhé”. Kỳ thực, tranh của chú vẽ quá hay, không phải nói, nhưng sách “mise” lại quá xấu. Tôi không dám nói với chú mà chỉ dám nói vui với Tô Ngọc Thành: “Lưu Công Nhân nấu phở tuyệt ngon, nhưng lại hắt phở ra bàn để người ăn liếm”. Không biết có đến tai chú hay không. Chỉ biết bận sau, chú viết cho tôi: “L.Đ.C. mới in một cuốn sách rất công phu. Xem xong chỉ muốn vứt”. [Cách đây mấy năm, anh Lê Đại Chúc ra Hà Nội có đến chơi với tôi, anh bảo: “Anh biết, trong một bài Quang Việt viết về Lưu Công Nhân, cái chữ viết tắt L.Đ.C. chính là chỉ anh đấy! Nhưng không sao! Vui mà!”]

* * *

Quãng 1997-1998 gì đó, trong tùy bút "Thời chúng tôi sống" (đã đăng trên báo Văn Nghệ và được bầu là bài viết hay nhất trong tháng của tờ báo), Lưu Công Nhân có kể lại một trải nghiệm tình cảm của mình trước cái chết của một người bạn (có thể là đạo diễn Trần Thịnh). Vào giờ phút cuối cùng của cuộc đời, người bạn ấy mới cảm nhận được hết cái mát lành của gió trời, của bầu trời, khi nằm trên chiếc xe cáng để đi qua cái “dặm xanh” (“green mile”- chữ của Stephen King) trong sân bệnh viện. “Trời xanh quá, gió mát quá”- có lẽ, là câu nói cuối cùng của người bạn đã được Lưu Công Nhân ghi lại.

Sau Tết Đinh Hợi (2007), Lưu Công Nhân có gửi cho tôi cuốn sách mới nhất của chú. Trong sách có in một bức ảnh chụp chú đang ngồi uống trà ở ngoài vườn, bên cạnh một cái cây đang trổ hoa, với một dòng chữ đề tặng run run (vì bệnh Parkinson) mà tôi đã rất quen: “Sáng ngày 1 tháng 1 năm 2007. Chúc mừng năm mới nhé”.

Đó cũng là dòng chữ cuối cùng của chú gửi cho tôi.

* * *

Sinh thời, bố tôi thường nói: “Ngày kháng chiến, Lưu Công Nhân xinh trai, sáng sủa lắm. Tô Ngọc Vân rất thích”. Và bất cứ khi nào có dịp nói chuyện với bố tôi, Lưu Công Nhân cũng đều nhắc đến “ông Vân” và... “cô Huệ” cấp dưỡng. Lưu Công Nhân từng viết trong thư: “Viết về Trường Mỹ thuật kháng chiến, giá có một đoạn về cô Huệ thì hay quá nhỉ”.

Trường Mỹ thuật Việt Nam Khóa Kháng chiến đi công tác & triển lãm tại Lào Cai Giải phóng 1951. Hàng trước (từ trái sang): 1. Nguyễn Khang (giảng viên), 2. Trần Đông Lương, 3. Tô Ngọc Vân (hiệu trưởng, người đội mũ, chống gậy), 4. Ngô Tôn Đệ, 5. Trần Quốc Ân, 6. Dư Tá, 7. Cô Huệ (người thấp nhỏ), 8. Bùi Trang Chước (giảng viên).
Trường Mỹ thuật Việt Nam Khóa Kháng chiến đi công tác & triển lãm tại Lào Cai Giải phóng 1951. Hàng trước (từ trái sang): 1. Nguyễn Khang (giảng viên), 2. Trần Đông Lương, 3. Tô Ngọc Vân (hiệu trưởng, người đội mũ, chống gậy), 4. Ngô Tôn Đệ, 5. Trần Quốc Ân, 6. Dư Tá, 7. Cô Huệ (người thấp nhỏ), 8. Bùi Trang Chước (giảng viên).

Hàng sau (từ trái sang): 1. Phan Thông, 2. Quang Phòng, 3. Trần Văn Cẩn (giảng viên), 4. Lê Nguyên Lợi, 5. Lưu Công Nhân, 6. Nguyễn Thế Vỵ, 7. Trịnh Phòng.

Bên ngoài, Lưu Công Nhân có vẻ lãng đãng, nhưng kỳ thực, trong sâu thẳm, chú không quên cái gì, không quên ai cả. Nhớ gì, nhớ ai chú cũng đều nhớ bằng hình ảnh, rất cụ thể, rất xác thực và rất có ý nghĩa - một phẩm chất của một họa sĩ đích thực. Lưu Công Nhân vẽ đẹp cũng vì thế, một cái đẹp có ý thức và hiếm có.

Một số người đã cho rằng: Lưu Công Nhân chỉ ăn thua ở tranh ký họa và tranh thuốc nước. Riêng đối với tôi, đó lại là một lời khen. Bởi vì hội họa ấn tượng chẳng đã từng được báo hiệu từ chính những tranh thuốc nước của Turner, của Jongkind, cũng như hội họa trừu tượng cũng đã chẳng bắt đầu từ chính những tranh thuốc nước của Kandinsky, hay sao? Cái gì đã hay, đã đẹp thì không câu nệ chất liệu, to nhỏ.

Lưu Công Nhân (1931-2007) - Phố Hàng Mắm. 1958. Màu nước.
Lưu Công Nhân (1931-2007) - Phố Hàng Mắm. 1958. Màu nước.

Trong số các họa sĩ xuất thân kể từ sau Cách mạng Tháng Tám, có thể nói Lưu Công Nhân là người đáng kể đến đầu tiên.

Sự nghiệp hội họa của Lưu Công Nhân quá oanh liệt, quá “công thành”, công thành đến mức tuyệt diệu, với hàng ngàn, hàng ngàn tác phẩm. Xưa, vì quá yêu cái tài của Lưu Công Nhân mà ông Bổng sưu tập hay gọi đùa Lưu Công Nhân thành Lưu “công toi”. Kể cũng là hay.

(Nguồn: Tạp chí Mỹ thuật, số 301&302, 1-2/2018)

Comments


bottom of page