Niềm vui & nỗi buồn: Mỹ thuật những năm từ 1954 đến 1960
- Jul 17
- 22 min read
(Trích bài viết năm 2022)
Trước và sau chiến thắng Điện Biên Phủ khoảng một hai tháng, có hai chuyến đi rất đáng ghi. Chuyến đi thứ nhất là chuyến đi xuôi xuống của Nguyễn Tuân. Trong suốt kháng chiến ông Nguyễn hầu như chỉ hoạt động ở trên Việt Bắc, trong khi gia đình ông lại ở dưới Khu 4. Rồi chẳng hiểu sao, ông Nguyễn bỗng cảm thấy “nóng ruột” bèn quyết tâm làm một chuyến vào tận Thanh Hóa để đón vợ con ông lên. Không rõ ông đi bằng gì, đi bộ, đi xe đạp hay đi bằng phương tiện nào, chỉ biết đi giữa chừng thì ông nghe tin ta đã chiến thắng. He he. Thực “vô duyên” thay cho chuyến đi ấy của ông Nguyễn!
[Trên thực tế: Nguyễn Tuân nghe tin chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng 5, là ở Dốc Cun, khi ông đã đón vợ con và cùng vợ con đang trên đường từ Thanh Hóa ngược trở lại Việt Bắc].
Chuyến đi thứ hai là chuyến đi ngược lên của Tô Ngọc Vân. Sau khi Khóa Kháng chiến kết thúc, ông Vân cùng Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ đi lên “phục vụ” chiến dịch Điện Biên Phủ. (Về chữ “phục vụ” này, Nguyễn Gia Trí có lần đã nói đùa rằng: Vì chính quyền ngày ấy thiếu máy ảnh nên phải huy động các họa sĩ). Theo bố tôi (ông Quang Phòng) kể lại, ông Vân đi lên Điện Biên Phủ là có mục tiêu chính trị rõ ràng: 1, phấn đấu trở thành đảng viên, vì chưa phải đảng viên ông Vân có vẻ như phải chịu nhiều “ấm ức”; 2, nếu hoàn thành được điều 1, tức là vào đảng, ông Vân sẽ có cơ được thỏa lòng mong ước là đi thăm, trao đổi học thuật và nghiên cứu hội họa ở các nước mà ông chưa bao giờ có dịp được đi, trừ Campuchia. Khoảng 1950-1951, Tô Ngọc Vân đã từng thay mặt các họa sĩ Việt Nam viết thư ngỏ lời thăm hỏi và cảm ơn Picasso và Matisse vì sự ủng hộ của hai đại bậc thầy đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp.

Hỡi ôi! Trên đường đi, vì muốn tránh một trọng điểm oanh tạc của máy bay Pháp, ba ông đã chọn một con đường khác tưởng như “an toàn” hơn, mà không thể ngờ rằng đấy mới chính là con đường tử dẫn đến cái chết của ông Vân, ngày 17 tháng 6 năm ấy, mà rồi cũng vẫn chỉ là chết do bom địch. Sau khi ông Vân chết ít lâu, bà Vân dường như vẫn không tin vào cái sự thật có vẻ “phi lý” ấy. Giả đò như ông vẫn còn sống, bà đến nhờ một ông thầy có tiếng để thử nghe ông thầy ấy “keng” như thế nào. Ai dè ông thầy trừng mắt nhìn bà, hư hử phán: “Người-này-còn-đâu-nữa-mà-xem. Bốn-chín-là-hết-mệnh”. Chính xác!!! Âu cũng là một niềm an ủi, dẫu là siêu nhiên.
Ấy lại nói về bà Vân. Hòa bình xong, bà vất vả lắm, nhà thì đông con, đi làm thì xa, phải đi từ tờ mờ sáng... Mà nào đã hết, ngày ông Vân còn đang làm giám đốc ở Trường Mỹ thuật Kháng chiến trên Việt Bắc, có đận thiếu tiền nuôi trường, bà nghe ông, phải lăn lê lặn lội về tận Hà Nội để vay vàng giúp ông. Lẽ đương nhiên, ông Vân chết rồi thì bà Vân sớm muộn vẫn phải lo trả nợ cho người ta. Người ta đến đòi, bà chưa có, giằng co thế nào bà bị người ta xô ngã gãy cả hàm răng. Đấy, làm việc nghĩa lại bỗng dưng ôm nợ vào cho mình, có ai biết ai hiểu cho mình không?
Cũng vào quãng đó, một hôm bố tôi đi ngoài đường thì chợt thấy một người đàn ông lạ đi xe đạp hơ hớ buộc ở đằng sau bức tranh sơn dầu “Thiếu nữ bên hoa sen” của Tô Ngọc Vân. Thế là bố tôi rượt theo đến tận nhà anh ta, đâu như ở phố Sinh Từ, “đánh dấu”. Mấy hôm sau, bố tôi đến gặp bà Vân, khuyên bà nên đi chuộc bức tranh ấy về. Nghĩ bà Vân mừng lắm, nào ngờ bà đốp luôn cho một câu: “Ối giời đất ơi anh Quang Phòng ơi, mẹ con tôi bây giờ ăn còn chẳng đủ huống hồ tranh với chả pháo”.
Mãi về sau này, anh Tô Ngọc Thành mới cho tôi biết: Người đèo bức tranh ngày xưa ấy là một nhân viên hành chính ở Trường Mỹ thuật, thấy bức tranh đẹp thì cứ tiện tay vô tư mang về nhà mình thôi. Anh ta đặt giá bán 200 đồng, hình như cũng chỉ xấp xỉ bốn, năm tháng lương phổ thông khi ấy - nếu có ai mua. Nay bức tranh “Thiếu nữ bên hoa sen” của Tô Ngọc Vân thuộc bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, việc mua bán trao đổi thế nào tôi không được biết.
* * *
Ngày tiếp quản Thủ đô, các văn nghệ sĩ từ khắp các vùng kháng chiến trở về phấn khởi lắm. Nguyễn Sáng mang theo về bức tranh “Giặc đốt làng tôi”, Dương Bích Liên thì mang theo “Mùa gặt”, cả chiến đấu lẫn sản xuất đều có đủ. Trên đường hành quân ở Tây Bắc, Nguyễn Sáng đã tức cảnh làm một bài thơ với nhan đề “Hoa đào vẫn nở”, mở đầu bằng bốn câu, xin chép đúng theo nguyên văn:
“Nước chảy suôi
Người tiến ngược
Chân rộn bước
Sương rơi lạnh”.
Hay! Lạc quan, khí thế làm sao. Nguyễn Đình Thi thì “đứng khóc” bên Hồ Gươm (trong bài thơ “Nhớ Hà Nội”). Dương Hướng Minh thì muộn hơn vài ba tháng. Sau gần 10 năm chiến đấu ở Sài Gòn-Chợ Lớn, người hùng Dương Hướng Minh “cởi trần” cùng đơn vị tinh nhuệ đặc biệt trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông chuyển quân tập kết ra Bắc trên chuyến tàu cuối cùng của Ba Lan.
Thực ra, những bức ảnh, những thước phim quen thuộc mà chúng ta vốn hay được xem chưa thể hiện được hết quang cảnh của Hà Nội trong ngày tiếp quản. Trên YouTube có giới thiệu một số phim tài liệu do British Pathé quay rất khách quan, đẹp và sinh động. Sáng sớm hôm ấy (10 tháng 10 năm 1954) đường phố Tây ở khu trung tâm Hà Nội vắng tanh, hầu như không một bóng người. Ở các cửa ngõ ra vào Thủ đô, khi làm thủ tục chuyển giao với quân đội Pháp, bộ đội ta có người vẫn còn đeo nguyên cả ruột tượng gạo căng đẫy, trong khi lính Pháp có người mặc quần soóc, cẳng chân hở dài ngoẵng. Hà Nội khi ấy biển tên phố cũng lắm thông tin, chẳng hạn như “Đại lộ Hai Bà Trưng - Phố 198 - Khu XIX", “Phố Lê Phụng Hiểu - Phố 191 - Khu XV"...
* * *
Mai Văn Hiến và Lê Thanh Đức khi ấy đều là bộ đội, cả hai ông cùng đeo quân hàm sĩ quan, hình như là đại úy, và cùng sống tập trung trong doanh trại đóng ngay sát thành Cửa Bắc (tức Trạm 66). Theo lời kể của ông Lê Thanh Đức: “Tớ và Mai Văn Hiến tích cực vẽ lắm. Tranh ‘Gặp nhau’ của Mai Văn Hiến và tranh ‘Hà Nội đêm giải phóng’ của tớ đều được vẽ ngay tại đấy”.
Chỉ chưa đầy một năm sau, tháng 8 năm 1955, Lê Thanh Đức, Trần Lưu Hậu, Ngô Mạnh Lân cùng được cử sang học ở Liên Xô, người học thiết kế điện ảnh, người học thiết kế sân khấu, người học vẽ phim hoạt hình.
Học cùng Khóa Kháng chiến với Trần Lưu Hậu, Ngô Mạnh Lân: Mai Long ở lại thêm mấy năm trên Khu tự trị Tây Bắc; Đào Đức, Ngọc Linh về Xưởng phim truyện Việt Nam, bắt đầu tham gia thiết kế mỹ thuật cho những bộ phim đầu tiên của điện ảnh cách mạng như “Biển động”, “Chung một dòng sông”; Lưu Công Nhân, Trọng Kiệm, Trần Đông Lương dạy ở Trường Mỹ nghệ (Trường Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội ngày nay); Ngô Minh Cầu thì dạy ở Trường Yết Kiêu, vân vân.
Ngày ông Mai Văn Hiến chép lại bức “Gặp nhau” mà hiện bản chép ấy đang được trưng bày chính thức tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tôi có chê ông “chép chẳng ra làm sao”. Thế là ông Hiến nổi cáu gắt tôi: “Bố cu phải thông cảm cho tôi. Màu tôi mua ở phố Sinh Từ, màu để quét vôi, làm sao tôi chép được như màu của Pháp ngày xưa”. Rồi ông hạ giọng, thủ thỉ: “Này anh bạn trẻ, nhớ giùm tôi tên của bức tranh là ‘Gặp nhau’, không phải là ‘Gặp gỡ’ nhé. Gặp nhau tức là trước khi gặp đã quen, đã thân với nhau rồi. Gặp gỡ thì lại khác đấy. Nhiều người hay viết nhầm, không phải anh”.
Còn về bức của Lê Thanh Đức, “Hà Nội đêm giải phóng” (hay còn gọi nôm na là “Phố Hàng Thiếc”), một hôm, quãng trước năm 2000 một chút, gặp tôi, bố tôi bực bội nói: “Ông Lê Thanh Đức bây giờ lạ lắm, ông ấy phủ nhận cái tranh ‘Phố Hàng Thiếc’. Ông ấy bảo có tờ báo Tây nó khen bức tranh, đại để như khen hiện thực xã hội chủ nghĩa, ông ấy đếch thèm”. Rồi ngẫm nghĩ một lát, bố tôi bảo: “Việt thử hỏi ông Lê 'Theng' Đức xem, nếu không có bức ý, ông ấy có cái gì?” Vì biết tính ông Lê Thanh Đức, nghe bố tôi bảo vậy tôi cứ ậm ừ cho qua, chứ tôi đã chắc là tôi không bao giờ hỏi. Phủ nhận ai chứ tự phủ nhận chính mình thì có gì đâu mà phải tranh luận nữa?
***
Nhân đang nhắc lại về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tôi muốn lưu ý bạn đọc: Chúng ta dường như chưa nghiên cứu đủ, nếu không muốn nói rất thiếu, về giai đoạn đầu khi chủ nghĩa này có tên gọi ở nước ta. Và có lẽ phải đến tận cuối những năm 1980, các nghệ sĩ ở nước ta mới ít nhiều có điều kiện để tỏ rõ thái độ “phản ứng” với nó.
Anh Đào Châu Hải có nói với tôi, tết Canh Tý 2020, anh có đến thăm ông Trần Lưu Hậu, tức là chỉ trước khi ông Hậu ra đi ít tháng. Qua cuộc trò chuyện, chắc cũng ngắn thôi, ông Hậu vẫn thoáng biểu lộ mối ưu tư của ông trước vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa, và dường như ông vẫn băn khoăn về tác động có thể của nó đến các nghệ sĩ trẻ. Ở đây cũng cần nhắc lại, Trần Lưu Hậu là một trong các họa sĩ đã trực tiếp trải nghiệm hiện thực xã hội chủ nghĩa cả ở Việt Nam và Liên Xô, ông đã học ở Moskva, Thủ đô của Liên Xô, đến bảy năm, từ 1955 đến 1962.
Những năm 1960, ông Hoàng Quy (nick-name là “Rùa Vàng") cũng đã từng theo học ở Moskva, ông kể: Tại Triển lãm Mỹ thuật các nước xã hội chủ nghĩa tổ chức ở Liên Xô, rồi sau đó lưu động sang các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (1958-1959), bạn bè quốc tế đặc biệt thích tranh sơn mài Việt Nam, nhất là bức sơn mài “Bình minh trên nông trang” của Nguyễn Đức Nùng. Có một số người bạn Nga đã hỏi ông Hoàng Quy: “Ở đất nước các bạn đã có Nguyễn Đức Nùng, các bạn còn sang đây để làm gì nữa?” Hay thật.
Về mặt lịch sử, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được giới thiệu tại Hội nghị Văn hóa ở Việt Bắc năm 1948 (tháng 7), tức là chỉ 14 năm sau thời điểm nó chính thức ra đời ở Liên Xô vào năm 1934 (và đã kết thúc ở Liên Xô khoảng 1988). Tuy nhiên, cũng vào năm 1948, khoảng cuối năm, ở Thanh Hóa (Liên khu 4), ông Đặng Thai Mai lại có vẻ như đã đề xuất “nội bộ” một quan điểm khác dựa trên tình hình cụ thể ở nước ta. Ông cho rằng việc áp dụng hiện thực xã hội chủ nghĩa ở nước ta khi ấy là “chưa thể”, và trước mắt chỉ nên sáng tác theo “phương pháp lãng mạn cách mạng”. Nhưng xem ra ý kiến ấy của ông Đặng Thai Mai không được ủng hộ.
Nếu tư duy theo lối của Hegel, bây giờ chúng ta có thể nói rằng: Cái khó, thậm chí là cái “bi kịch” của thời kỳ đó không phải nằm trong mâu thuẫn giữa đúng và sai, mà nằm ngay ở trong mâu thuẫn giữa cả hai thứ đều có vẻ đúng.
Kể từ 1955, tại Hà Nội, giới trí thức, giới văn nghệ sĩ họp rất nhiều, hội nghị, tọa đàm cũng rất nhiều, có hội nghị họp tới 18 ngày (Hội nghị văn nghệ tháng 8-1956). Tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1955, người ta đã hạ xuống những bức tranh tĩnh vật; hai tranh sơn mài “Khi trăng lên” và “Niềm vui” của Nguyễn Sáng lúc đầu được khen sau lại “bị chê”. Về bức sơn mài “Nhớ một chiều Tây Bắc” (giải nhất) của Phan Kế An, ta nên đi sâu vào một chút. Đây, có thể nói, là một bức tranh rất trúng cả về chủ đề lẫn chủ thể mà ngày ấy đang được quan tâm, chú ý. Ngay cái tên của nó cũng đánh trúng vào tâm lý mang tính “thời sự” của rất nhiều người xem vừa mới trải qua cuộc kháng chiến, nào “nhớ”, nào “chiều”, nào “Tây Bắc”...
Không phải ai ai cũng đều giác ngộ rằng tên tranh là rất quan trọng. Nhiều tranh rất hay mà vướng cái tên dở, cầu kỳ kiểu cách hoặc vô duyên vô vị, là điều đáng tiếc không bao giờ sửa chữa được nữa. Chữ vẽ cùng với chữ văn một vần - là họa sĩ có lẽ cần nhớ.
Ông Phan Kế An kể với tôi: “Bức Chiều Tây Bắc tao làm đến bảy lớp vàng, sau Hồng Hải chép lại cho bảo tàng chẳng biết bao nhiêu lớp nhưng mà giống hệt”. Hóa ra ngày ấy cũng đâu có nghèo lắm, so với những năm 1970-1980 vẫn còn “khấm” hơn nhiều. Mà kể cũng lạ, bao giờ tôi nhắc ông Phan Kế An gửi ảnh tranh để in sách, ông cũng đều gửi duy nhất ảnh bức tranh ấy, hoặc gửi kèm theo vài ảnh tranh khác nhưng dứt khoát vẫn phải có nó. Đây chắc hẳn là một chiến lược “PR” của ông, không giống như một số họa sĩ nào đó, không được in tranh mới thì buồn, hậm hực, giận dỗi, mà cứ chiều theo ý họ thì biết đâu người xem chẳng nhớ được gì về họ cả.
... Cuộc sống những năm đầu sau hòa bình quả thực ít nhiều phấn chấn. Ông Tô Hoài kể, ông đã mua ngôi nhà mặt tiền ở phố Đoàn Nhữ Hài, nơi gia đình ông vẫn sống cho tới bây giờ, bằng tiền nhuận bút bộ sách viết về Tây Bắc. Hoặc ngay như gia đình tôi, sau khi mẹ tôi sinh chị tôi năm 1956, bố tôi còn đưa cả gia đình và dì tôi lên nghỉ ở làng Mông Phụ, làng Đông Sàng (Sơn Tây), hàng ngày thì ông đi vẽ. Đây cũng là quê của ông Phan Kế An, có ông cụ Bào xưa làm lý trưởng, một người thân quen của hầu hết các cựu sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương trong thời kỳ trường sơ tán tại đây những năm 1943-1945. Năm 1993, bố tôi, vợ chồng ông Lê Thanh Đức và tôi có về thăm lại làng Mông Phụ, làng Đông Sàng; cụ Bào vẫn khỏe, còn chống gậy ra cổng chùa Mía chụp ảnh chung làm kỷ niệm. Có thể nói, những năm tháng thật sự êm đềm ngay sau hòa bình ấy, ít nhất là đối với gia đình tôi, hầu như không bao giờ có lại nữa.
***
... Kể từ năm 1957, sau “Nhân văn”, có thêm rất nhiều câu chuyện đáng ghi, song ở đây tôi chỉ chọn ra một vài chuyện trong số rất nhiều chuyện mà tôi được nghe trực tiếp từ những người trong cuộc.
Nào, trước hết tôi muốn kể về ông Phan Tại, người học cùng khóa với Diệp Minh Châu và Nguyễn Sáng ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông Phan Tại đã từng đi kháng chiến, một quãng thôi, rồi ông về Hà Nội làm đạo diễn sân khấu, tham gia làm cả phim. Khi ấy sân khấu là một món hấp dẫn, vì thế ông cũng kiếm được. Vợ ông là bà Cẩm Vân, diễn viên, một người đẹp nổi tiếng, đẹp kiểu tân thời. “Chàng và Nàng” đóng cổ phần ở Hotel Coq d’Or trên phố Tràng Tiền, hàng ngày ăn cơm tiệm ở đó. Nhà ông Phan Tại thì ở phố Trần Quốc Toản, ngay mặt đường, luôn luôn sẵn cà-phê, thuốc lá loại ngon, chỉ “đáng tiếc” lại ở rất gần nơi tòa soạn báo “Nhân văn” đặt trụ sở, và thêm nữa, lại ở trong cùng một số nhà với bà Thụy An. Tiện quá, mấy ông ở tòa báo hễ rảnh lại nhớ sang chơi nhà ông Phan Tại, uống cà-phê, hút thuốc lá, hút bằng tẩu và chiêm ngưỡng... bà Cẩm Vân. Tất cả những cái đó ai ngờ rằng lại là “tiền đề” sẽ khiến ông Phan Tại phải đi tù? Tù 6 năm! Vẫn may là ông còn được ra tòa, chứ ông họa sĩ Phạm Khanh em rể ông thì chỉ biết đi là đi, 8 năm, mà cho đến khi về vẫn không biết mình đi vì cái gì!?

Ông Phan Tại ra tòa cùng với bà hàng xóm Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang. Về ông Đang và bà Thụy An tôi không dám nói, chỉ được biết ông Phan Tại chắc chắn không tham gia “Nhân văn”. Ở tù ra ông vô cùng khổ cực, ba bốn giờ sáng, đông cũng như hè, ông đạp chiếc xe cà tàng ra cột đồng hồ ở đường Trần Nhật Duật, khóa móc xe vào hàng xích bao quanh cột, rồi xuống vác cát thuê ở bãi sông Hồng. Về già, cũng chưa bao giờ có chữ an sinh ở ông. Bù lại, ông được Trời cho tuổi thọ, sống khỏe mạnh đến 87 tuổi, lại còn cho thêm cái bản tính “phớt”, vô chấp vô cầu, có tiền biết tiêu tiền, không tiền biết nhịn, hữu sự được thua thành vô sự…
Năm 1995-1996, một buổi tối, cỡ phải hơn 10 giờ, gió đông heo hút, bất chợt tôi nhìn thấy ông Phan Tại đạp chiếc xe đạp “độ” bé tí xíu phóng vun vút trên phố Ngô Quyền, lại có ông Trần Dần đang ngồi co ro bấu ở đằng sau, trông cực kỳ ngộ. Cũng quãng thời gian ấy, tôi có đến thăm nhà ông Trần Dần ở phố Vũ Lợi để xin tư liệu về Trần Trọng Vũ (anh Vũ lúc ấy đang ở Pháp). Hình như ông đang mệt, nằm trong màn, ho sù sụ. Bà Trần Dần vừa ngồi nói chuyện với tôi vừa phải nhấp nhổm chăm ông.
Ông Trần Dần vẽ rất hay, theo phong cách tượng trưng, trên khổ giấy nhỏ. Theo ông Mai Long, ngay từ trong kháng chiến chống Pháp, ông Trần Dần đã vẽ lập thể. Khi làm thơ ông cũng rất có ý thức về tổ chức tạo hình cho câu, chữ. Tài năng của ông quả là đa dạng và rất lạ, lạ từ rất sớm.
Chung quanh một đề tài “gì đó” liên quan tới ông Trần Dần, Nguyễn Sáng đã có xung đột với một vài người ở báo “Nhân văn”, vì Nguyễn Sáng cho rằng họ đã “gạt” ông, đưa thông tin thất thiệt để nhờ ông vẽ minh họa. Ông Trần Duy hay khen thơ Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán, chê “Người người lớp lớp” của Trần Dần, e cũng có phần nào từ cái vụ ấy.
Ông Trần Duy thì không bị “đi”, mặc dù ông vừa làm thư ký tòa soạn báo “Nhân văn” vừa là một tay bút viết truyện “cổ trang” đăng trong các tập “Giai phẩm". Tất nhiên, đối với ông Duy, chữ “đói” không cần phải miêu tả. Ông có thể chỉ đỡ hơn một số người khác phần vì được nhờ vào chiếc máy khâu do ông Song Hào thu xếp để gia đình ông có phương tiện nhận đồ may gia công kiếm thêm chút tiền trang trải cuộc sống, “không thì cũng bỏ mẹ”, ông Trần Duy nói. Cách đây chừng ba năm, tôi có gặp cậu Thao, con út ông Trần Duy, từ Canada về Hà Nội thăm mẹ. Những người con của ông Trần Duy khổ vì ông thì hẳn rồi, nhưng khổ như thế nào, đặc biệt về mặt tinh thần, thì phải qua chính họ mới biết. Vì có nhiều nỗi trong lòng, ông và các con ông không mấy khi nói chuyện ôn hòa được với nhau, lôi thôi là ông cho “a-lê-cút”. Phải chăng vì cám cảnh, cậu Thao đã thành “boat people”, bị bắt hai lần, lần thứ ba mới thoát.
Khi còn sống, chính ông Trần Duy cũng đã thừa nhận với tôi về cái sự “chuyên chế” đó của ông và qua những lần ông tâm sự, tôi cũng cảm nhận được, từ sâu trong cõi lòng ông rất thương con và cảm thông nỗi khổ của các con ông.
Từ những năm 1980 cho đến lúc ra đi vào năm 2014, ông Trần Duy một mình sống tách ra khỏi gia đình, sống bằng vẽ tranh; và cho dù ông phải chuyển chỗ ở đến chục lần, và cũng không phải người nặng về duy tâm, ông vẫn luôn luôn chu đáo mang theo bàn thờ tổ tiên, hẳn có phần để ông luôn luôn được cầu mong sự phù hộ độ trì của tổ tiên dành cho các con, các cháu…
Biết tôi thân với ông Trần Duy, một hôm bà Thanh Ngọc kể: “Ngày xưa ông Trần Duy rủ tao làm triển lãm chung. Nhưng sau đấy chẳng nghe ông đả động gì cả...” Rồi bà kể tiếp: “Buồn cười lắm, độ ấy có thằng bé ở gần nhà lấy trộm đồ của ông Trần Duy đem bán, ông ấy biết, ông kín đáo bảo nó đưa ông đến chỗ nó bán để ông tự chuộc về, xóa tội cho. Nó ngoan ngoãn dẫn ông đi. Nào ngờ, bất thình lình thằng bé thấy anh công an, nó vùng chạy ra vồ lấy, chĩa thẳng tay vào ông Trần Duy, hét toáng lên: Cứu! Cứu! Chú công an ơi, cái lão 'Nhân văn' kia lão ý bắt nạt cháu.” Hì hì, đáng tiếc là bà Thanh Ngọc hình như chỉ biết đến đấy chứ không biết kết cục của câu chuyện. Thực khổ thân cho ông Trần Duy. “Về mặt ngôn luận, so với các đài truyền hình hay tờ Tuổi trẻ ở ta bây giờ, tờ Nhân văn ngày xưa chẳng thấm tháp gì mấy. Nhưng ngày ấy...” - ông Trần Duy đã phát biểu như vậy tại lễ ra mắt cuốn sách “Suy nghĩ về nghệ thuật” của ông do Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây tổ chức năm 2008.
[Câu nói này của ông Trần Duy đã được tác giả nhắc đến một lần trong bài “Tưởng niệm về Tô Ngọc Vân” viết năm 2016. Có thể giữa hai lần nhắc không hoàn toàn trùng khớp nhau, song về tinh thần và nội dung căn bản thì như nhau. Trí nhớ của con người là có hạn và khá lạ lùng, có khi càng về sau ta lại càng nhớ chính xác hơn hoặc ngược lại. Rất mong được bạn đọc thấu hiểu và thông cảm.]
Riêng về bố tôi, thú thực cho đến giờ tôi vẫn chưa biết bố tôi “dính dáng” đến “Nhân văn” như thế nào, chỉ biết hệ lụy đến từ cái tưởng như vô hình vô niệm ấy là có thực. Theo bố tôi thì ông bị oan, mà oan, theo như một số người nói, vì bố tôi có liên kết gì đó với ông Sỹ Ngọc (khi ấy cả hai ông đang cùng dạy ở Trường Mỹ thuật Yết Kiêu, lại còn từng là anh em kết nghĩa của nhau). Có thể vì bản tính hơi “cố chấp”, không biết “mắt nhắm mắt mở” mà bố tôi dường như không bao giờ vượt ra được nỗi ám ảnh về quá khứ ấy.
Chuyện này suy cho cùng cũng ít nhiều là do mẹ tôi, vì cũng trong quãng thời gian đó ông Huy Cận có động viên bố tôi đi học thêm về lý luận nghệ thuật ở Liên Xô, nhưng mẹ tôi thì lại động viên bố tôi từ chối, không đi, chỉ với một lý do duy nhất “anh đi, em và con ở nhà mùa đông buồn lắm". Ôi mẹ ơi!
Năm 1958, một buổi chiều lạnh, mẹ tôi phải đi tiễn bố tôi ra vườn hoa Cửa Nam. Ở đó có đỗ sẵn một chiếc xe tải và một số nghệ sĩ, toàn có tên tuổi, đang đứng chờ. Rồi chiếc xe chở họ chạy tuốt đến một vùng quê xa xôi ở tận Thái Bình.
Đoàn văn nghệ sĩ ấy do ông Hoàng Trung Thông dẫn đi, tất cả đều phải “ba cùng” với nông dân, gánh phân, gánh đủ thứ, 70-80 cân một gánh, có người đau vai quá phải xé cả áo để lót đòn gánh. Rồi nghe nói ở đâu người ta phát minh ra phương pháp làm mát thóc giống trong quá trình ngâm giúp tăng sản lượng, họ lại cắt cử nhau ngồi quạt cho thóc, có khi quạt suốt đêm, vân vân. Rất hay là trong chuyến đi đó, bố tôi lại ghi được một số ký họa... Có một truyện ngắn đăng trên báo Văn Nghệ, cũng gần gần đây thôi, khoảng hơn 30 năm, đã viết lại chuyến đi ấy.
Đoàn có ông Sỹ Ngọc hình như “nặng hơn”, đi ra mỏ than Quảng Ninh, “ba cùng” với công nhân.

... Nguyễn Tư Nghiêm có một độ giả điếc, ai hỏi gì, bảo gì, huấn thị gì ông cũng đều giả ngây, rồi đáp lại như quát: “Hể?! Nỏi to lên, khổng nghe thấy gì cả” (giọng xứ Nghệ). Có thể ông Nghiêm đọc nhiều sách Tây nên ông đã học được miếng võ này của Degas.

Đầu năm 1993, lần đầu tiên tôi được gặp ông Văn Cao tại nhà ông ở phố Yết Kiêu. Ông bảo: “Ông Quang Phòng hiền nhỉ. Bao giờ gặp tôi ông cũng nói chuyện cười vui”. Về tôi kể lại cho bố tôi, bố tôi lắc đầu: “Văn Cao nói như thế vì ông ấy biết rất nhiều người lánh mặt ông”.

Tầm này năm ngoái, đọc tạp chí “Cửa biển” của Hội Văn Nghệ Hải Phòng - chỗ anh Đặng Tiến, tôi tình cờ tìm được một thông tin rất thú vị. Khoảng 1941-1942, từ Hải Phòng lên Hà Nội, Văn Cao có trú tại nhà ông Lưu Văn Sìn một thời gian. Đây cũng chính là khoảng thời gian Văn Cao theo học dự thính (auditeur libre) tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.
Bố tôi hay kể đi kể lại chuyện ông Huy Phương, tác giả cuốn “Xi măng”, trong thời gian lớp học chỉnh huấn tư tưởng chuyển từ Thái Hà sang tận Đông Anh, mặc dù có xe đạp nhưng sáng nào ông ấy cũng dậy từ lúc trời còn tối, guồng bộ đâu như gần 20 cây số sang lớp học, đến chiều sẩm lại guồng từ đấy về. “Tay ấy mới là tay đáng nể”, bố tôi cũng thường hay trầm trồ kết thúc câu chuyện về ông Huy Phương bằng đúng một câu như thế.
Năm 1960, ông Nguyễn Huy Tưởng mất, vợ ông có vẻ hoang mang. Bà đến gặp bố tôi, hỏi: “Anh có việc gì giới thiệu cho tôi làm thêm với”. Kể cũng tội. Nghe nói, ông Nguyễn Huy Tưởng cũng “đỡ” cho một số văn nghệ sĩ, ông rất hay lưu ý chính quyền về tài năng hội họa của Nguyễn Sáng.
Trần Văn Cẩn kể, một hôm ông đang trên đường về nhà ông ở phố Nguyễn Thượng Hiền, khi đi qua phố Nguyễn Du, đoạn gần ngôi biệt thự của cụ Nam Sơn, thì tình cờ gặp cụ. Cụ Nam Sơn có hỏi: “Chú Cẩn có việc gì cho thầy làm với?” Hì hì, ngày ấy hình như mọi người hay cùng hỏi một câu na ná nhau như vậy. Lúc ấy cụ Nam Sơn đã trên dưới 70 tuổi, chắc cụ chỉ hỏi cho vui, cho có chuyện với người học trò cũ của mình, chứ làm sao có việc gì để dành cho cụ được. Cụ Nam Sơn có vẽ tranh “đề tài”. Năm 1987, ông Trần Văn Cẩn và ông Hữu Ngọc làm cuốn sách “Vietnamese Contemporary Painters”, trong sách có giới thiệu cả cụ Nam Sơn, mà đấy hình như cũng là lần đầu tiên cụ “chính thức vào sách cách mạng”. Năm ấy tinh thần đã cởi mở hơn, nhưng bây giờ vẫn muốn đặt câu hỏi: Nếu cụ Nam Sơn không có tranh “đề tài” để chọn, liệu ông Trần Văn Cẩn hay ông Hữu Ngọc có giới thiệu cụ hay không? Đương nhiên không nên đòi hỏi nhiều quá, ở đây chỉ xin ghi chú rằng, trong cuốn sách này, vắng mặt ông Nguyễn Gia Trí!
Tôi không nhớ chính xác thời gian ông Nguyên Hồng dọn lên Nhã Nam, Yên Thế, vừa tự trồng lúa vừa viết sách, là khi nào. Chỉ tạm có hai thông tin rất đáng ghi về ông Nguyên Hồng. Ông hay đi chiếc xe đạp trẻ con, thấy bạn ở ngoài đường ông thường níu lại, nhấn đúng một câu: “Thế nào cũng được, nhưng không được hèn”... Lúc Nguyên Hồng mất, trong nhà ông chỉ còn mấy bơ gạo.
Có thể bạn đọc sẽ đặt câu hỏi, tại sao tôi viết về mỹ thuật mà lại viết cả về các nhà văn. Ồ! Thế giới của các văn nghệ sĩ ngày xưa hầu như không có ranh giới nào, nhất là sau khi họ đã cùng nhau trải qua gian khổ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày mới trở về Hà Nội, tất cả đều chung một mái nhà lớn là Hội Văn Nghệ Việt Nam. Chỉ đơn cử như trong ngày bố mẹ tôi cưới nhau, ngoài các họa sĩ, còn có rất đông các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà đạo diễn, nhạc sĩ, diễn viên sân khấu đến tụ tập chia vui. Riêng ông Nguyễn Tuân còn “đứng tên” làm chủ hôn. Rồi cứ thế cả đoàn người linh đình kéo nhau từ phố Hai Bà Trưng sang dự tiệc mít-tinh ở phố Hàng Bài, rồi lại từ phố Hàng Bài trở về phố Hai Bà Trưng. Có lẽ bởi vậy, mỗi khi nhắc lại những kỷ niệm về ngày cưới của bố mẹ tôi, dù đã sau biết bao nhiêu năm trời, mẹ tôi vẫn luôn luôn tuyên dương bố tôi: “Oách!”
A! Không nên quên chuyện của ông Văn Giáo, một trong những người bạn rất thân của bố tôi. Ông Văn Giáo hơn bố tôi đến 7-8 tuổi, nhưng lại cưới vợ sau bố tôi 5 năm. Khi cưới vợ (năm 1960), ông Giáo đã 44, ngày ấy bị coi là quá quá muộn. Tuy nhiên, điều ấy chưa hẳn là đáng lạ. Lạ là ở chỗ, khi ông Giáo lấy vợ thì bà vợ ông Nguyễn Đỗ Cung bỗng dưng lại đến “xin cảm ơn” vợ ông Giáo. Tại sao thế nhỉ?
Là thế này, bộ đôi Giáo-Cung thân thiết với nhau như thế nào thì nhiều người biết. Hai ông đã cùng nhau hoạt động ở Liên khu 5, và cùng là “hội viên của câu lạc bộ những người đàn ông tính nóng như lửa”. Ngày ông Văn Giáo chưa lấy vợ, ở một mình, mỗi khi ông Nguyễn Đỗ Cung có “trục trặc” với gia đình, ông Cung đều đến tá túc ở nhà ông Giáo, và lẽ tất nhiên, ai chả vậy, bà Cung khó có thể hài lòng, thậm chí còn ấm ức vì cái thủ pháp quen thuộc có phần “tiêu cực” ấy của ông Cung. Bởi vậy, có lẽ không chỉ đối với vợ ông Văn Giáo, mà với bất kể một ai khác nếu có, cứ hễ chặn được lối vào “an toàn khu” của ông Nguyễn Đỗ Cung, thì bà Cung chắc hẳn đều sẽ cảm thấy cần phải cảm ơn người ấy.
Ông bà Văn Giáo có hai cậu con trai, cả hai đều cao lớn như ông Giáo, toàn cỡ thước tám thước chín, cậu cả tên Nam, cậu sau tên Đức. Bây giờ cậu Đức thì sống ở Việt Nam, cậu Nam thì sống ở Đức.
Xưa ông Văn Giáo và Nguyễn Tư Nghiêm ở sát nhà nhau, ông Nghiêm có vẻ “ngán” hai cái thằng cu này của ông Văn Giáo lắm. Ông Nghiêm hay bảo tôi: “Mừn ở đây củng phải cẩn thận, lở mơ chủng nó thụi cho”. Hi hi.
(Nguồn: Trích “Đời sống văn nghệ Hà Nội ‘thời xa vắng’”, Tạp chí Mỹ thuật, số 349&350, tháng 1-2/2022)



Comments